Danh sĩ Cao Bá Quát với Phủ Quốc: "Mắt thu non nướcvạn trùng khơi"

Núi Hoàng Xá nơi Cao Bá Quát viết thơ vịnh núi Hoàng
Riêng với Phủ Quốc, ông coi là quê hương thứ hai, từng muốn dựng nhà tựa núi Sài Sơn vì có sự đồng điệu với cốt cách con người và say mê phong cảnh núi Thầy; máu ông đã thấm đỏ đất này và Phủ Quốc vỗ an ông trong giấc ngàn thu.
Một cuộc đời huyền thoại
Cao Bá Quát (1806 - 1854), tự Chu Thần, hiệu Cúc Đường, biệt hiệu Mẫn Hiên, quê ở làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội). Xuất thân trong gia đình nhà nho, Cao Bá Quát được cha kèm cặp học hành và hướng vào đường khoa cử. Năm 23 tuổi, Cao thi Hương đỗ Cử nhân; năm 32 tuổi, được bổ làm Hành tẩu bộ Lễ. Khi làm Sơ khảo trường thi Thừa Thiên, vì thương những sĩ tử có tài nhưng phạm húy nên ông đã cùng Phạm Nhạ chữa bài cho họ; việc bị lộ, ông bị giảo giam hậu (giam đợi lệnh), sau được tạm tha, cho đi phục dịch trong phái đoàn ngoại giao để lập công chuộc tội. Cuối hè năm 1843, ông về Đà Nẵng, lại được gọi vào bộ Lễ, sau bị thải về. Ông chơi thân với Nguyễn Văn Siêu (1795-1872), quê làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, Hà Nội, đỗ Phó bảng năm 1838, (một học giả uyên bác) và hai người được suy tôn là “thần Siêu, thánh Quát” vì tài năng văn chương lỗi lạc.
Được tiếp xúc với nhân dân, thấu hiểu nỗi khổ của họ do bị áp bức, bóc lột quá đáng, ông càng chán ghét triều đình. Năm 1847, ông được triệu vào Viện Hàn lâm, làm việc sưu tầm, sắp xếp văn thơ cho vua Tự Đức nhưng thấy nhàm chán, muốn bỏ về. Do cương trực, không luồn cúi, ông bị vua quan nhà Nguyễn đưa đi làm Giáo thụ ở Phủ Quốc vào mùa hè năm 1850 (Tự Đức thứ ba). Ông tỏ ý khinh ghét và mỉa mai chế độ, oán giận triều đình thối nát và bắt đầu vận động những người cùng chí hướng chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa năm 1853, ông xin thôi dạy học, lấy cớ về nuôi mẹ già. Ông liên hệ với các thổ hào ở Tây Bắc là Đinh Công Mỹ và Bạch Công Chân để bổ sung lực lượng; suy tôn Lê Duy Cự làm minh chủ, còn mình lãnh chức Quốc sư. Cuối tháng 11-1854, ông làm lễ tế cờ ở Rừng Ngang rồi chia quân làm 3 cánh, một cánh tiến đánh phủ Ứng Hòa và huyện Thanh Oai, một cánh đánh xuống Kim Bảng (Hà Nam), một cánh đánh lên Yên Sơn (Phủ Quốc) và Vĩnh Tường (nay thuộc Vĩnh Phúc). Lên Phủ Quốc, Cao đóng quân ở cạnh núi Hoàng (chỗ sau này là sân kho của HTXNN, phía trước đình Hoàng Xá). Trong trận giao chiến với quân của triều đình cạnh núi Hoàng, Cao thua trận. Sử triều Nguyễn không nói rõ Cao chết tại trận hay là bị thương, bị bắt sau đó mới chết. Vì yêu mến ông, nhiều giai thoại đã ra đời, cho rằng ông không chết; kể chuyện ông bị tù để đề cao khí phách của ông; có giai thoại còn cho rằng ông thoát được, sau mới ốm chết... Cao Bá Quát không nổi loạn mà phản kháng theo đúng tinh thần anh hùng của người Việt Nam, muốn trừ bạo cứu dân và giữ tấm lòng thanh cao. Đôi câu đối:
“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”
Dịch nghĩa:
Mười năm bàn đạo ngao du, khó như tìm gươm cổ
Một đời ta chỉ cúi đầu sùng bái hoa mai
Bốn bài thơ đề núi Sài - một cốt cách, một tấm lòng
Lên thăm núi Sài, Cao có đến 4 bài đề vịnh. Tại Vườn Đào trước cửa hang Thánh Hóa, hiện còn bút tích của Cao Bá Quát là ba chữ “Đào Hoa Viên” khắc trên vách đá. Bốn bài thơ (bản dịch của Tảo Trang) như sau:
Vãn du Sài Sơn vũ hậu đăng sơn đầu đề bích, tứ thủ
(Buổi chiều đi chơi Sài Sơn, mưa tạnh, lên núi đề thơ vào vách núi, bốn bài)
Bài 1
Bao núi bên sông tỏa khắp nơi
Núi này phong cảnh nhất phương Đoài
Đã mang ấn đến Kim môn ẩn
Còn sửa guốc tìm Ngọc cục chơi
Mưa phất vũng sen bông đỏ thắm
Chuông rền bóng xế tiếng buông rơi
Trần ngâm phanh áo nhìn xa thẳm
Những mến rừng thiền thú thảnh thơi.
Hò hẹn non Tô lỡ mãi rồi
Trời Tây bầu nón chậm lên chơi
Tấm bia Cảnh Thống chùi rêu đọc
Dấu gót Từ Công gọi đuốc soi
Mây núi bốn bề vui ngắm nghía
Cuộc đời trăm tuổi mấy đầy vơi
Lênh đênh bước trước bàn chi nữa
Tay đỡ bông sen miệng mỉm cười.
Tác giả nhắc đến ngọn núi Tô Môn ở Hà Nam (Trung Quốc), đời Tấn có Tôn Đăng ẩn ở đó - so sánh với núi Sài mình đến. Từ Công: Từ Đạo Hạnh, cao tăng tu luyện và hóa ở núi Sài, còn dấu chân trong hang Thánh Hóa, thác sinh làm vua Lý Thần Tông. Cảnh Thống: Niên hiệu vua Lê Hiển Tông (1498-1504). Bài này có hai câu cuối rất hay, cho thấy một Cao tiên sinh từng trải việc đời, đã đến lúc tự biết mình, tự cười mình từng khốn khổ vì mắc vòng danh lợi: “Bình sinh lãng tích na trùng vấn/Thủ bả liên hoa tiếu tự tri” (Bước đường nay đây mai đó trước đây không cần nhắc lại nữa/Tay cầm bông hoa sen, mỉm cười, mình tự biết mình). Một Cao Bá Quát kiên định mà nhân bản.
Bài 3
Ông già thích kể chuyện quan Thượng
Khóm trúc làn ao dưỡng tuổi già
Bóng xế đem theo đời biến đổi
Dòng xuôi riêng chán cảnh vinh hoa
“Ba thôi” trong cuộc thân từng trải
“Sáu tựa” xem người mắt đã qua
Mệt mỏi dễ thành ưa phóng dật
Núi đây ta sẽ dựng ngôi nhà.
Quan Thượng được nói ở đây là Phan Huy Cần (1722-1789), quê Hà Tĩnh, đỗ Tiến sĩ năm 1754, làm quan đến Tham tụng; lúc già về ở Thụy Khê, Sài Sơn. Cụ là cha của Phan Huy Ích (1750-1822), Phan Huy Ôn (1755-1786) và Phan Huy Chú (1782-1840). Đến núi Sài, Cao tâm đắc với sự lựa chọn của cụ Cần. “Dòng xuôi riêng chán cảnh vinh hoa”...: lấy từ điển tích chỉ việc làm quan đang đắc ý như trên dòng chảy xiết mà dứt bỏ để về; trong đời cụ Cần có 3 lần thôi việc: 1 lần bị bãi chức và 2 lần về hưu. “6 tựa” (6 lẽ hư ảo): Tất cả việc trên đời đều như mộng, như ảo, như bọt nước, như cái bóng, như sương và như chớp - tất cả đều không bền vững, vậy mà có lúc mình đã đeo đuổi. Cao cũng muốn như cụ Cần: Từ bỏ danh lợi, về sống thanh thản giữa thiên nhiên.
Bài 4.
Tham chơi đầu bạc hứng chưa nguôi
Chống gậy trèo cao rộng bước chơi
Bút cuốn khói mây mười sáu ngọn
Mắt thu non nước vạn trùng khơi
Am xưa hạc ốm nghe im tiếng
Rồng bướng giương vây dậy giữa đồi
Hãy tới chợ trời tung điệu sáo
Vòm trời cười hỏi mấy xa vời?
Bài dùng điển tích “hạc ốm”(Trung Quốc) nói rằng không phải ở thế gian này, người nào cũng hoàn toàn là người; người thật là người rất ít. Còn hình ảnh “Rồng bướng” (quai long) so sánh núi Sài như con rồng bướng giương vây đột khởi giữa đồng bằng. “Vòm trời” nói trong bài là dựa theo sách Phật nói ba cõi Phật có 28 vùng trời, đứng trên chợ Trời đỉnh núi Sài thì gần tới trời. Bài thơ thể hiện cái nhìn phóng khoáng và tầm tư tưởng lớn lao của danh sĩ Cao Bá Quát.
Ngoài bốn bài thơ về núi Sài, Cao còn có bài thơ về núi Hoàng Xá; mỗi bài một vẻ đẹp riêng nhưng đều hài hòa thống nhất trong đề tài vịnh cảnh, bày tỏ tư tưởng, thể hiện cốt cách, tấm lòng của một tài năng lớn, một nhân cách lớn. Dẫu rằng thời gian Cao ở Phủ Quốc không dài, chỉ trên 2 năm, nhưng đất và người nơi này đã để lại trong ông bao cảm mến. Người Phủ Quốc biết ơn ông đã góp phần làm phong phú truyền thống văn hiến quê hương. Dấu tích Thánh Quát còn trên “sách đá” núi Thầy và người sống mãi trong lòng dân Phủ Quốc.
Đỗ Quốc BảoNguyễn Hữu Huân @ 00:10 28/06/2011
Số lượt xem: 2168
- Tìm lại điệu hát Dô xưa (18/08/09)
- Khu N1 + N3 đô thị mới Quốc Oai (16/08/09)
- Đến với khu du lịch Chùa Thầy (05/08/09)








Các ý kiến mới nhất