Lịch

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Facebook của tôi

    Liên kết website

    Đi dọc Việt Nam

    THẦY CÔ VÀ CÁC BẠN HÃY NHẤP VÀO LIÊN KẾT BÊN DƯỚI, RẤT NHIỀU THỦ THUẬT HAY XIN ĐƯỢC CHIA SẺ VỚI THÂY CÔ VÀ CÁC BẠN

    Gốc > Bài viết về Quốc Oai > Quốc Oai quê tôi >

    Danh sĩ Cao Bá Quát với Phủ Quốc: "Mắt thu non nướcvạn trùng khơi"

    Cuộc đời Cao Bá Quát gắn với 3 địa danh: Nơi sinh - Phú Thị, Gia Lâm (Hà Nội); Phủ Quốc (Quốc Oai) - nơi ông làm Giáo thụ với bao buồn vui, nơi ông đánh nhiều trận oanh liệt; và Mỹ Lương (Chương Mỹ) - trung tâm phong trào khởi nghĩa do ông lãnh đạo.
    lotus lake - Hoàng Xá pagoda

    Núi Hoàng Xá nơi Cao Bá Quát viết thơ vịnh núi Hoàng  

    Riêng với Phủ Quốc, ông coi là quê hương thứ hai, từng muốn dựng nhà tựa núi Sài Sơn vì có sự đồng điệu với cốt cách con người và say mê phong cảnh núi Thầy; máu ông đã thấm đỏ đất này và Phủ Quốc vỗ an ông trong giấc ngàn thu.

     
    Một cuộc đời huyền thoại
      

    Cao Bá Quát (1806 - 1854), tự Chu Thần, hiệu Cúc Đường, biệt hiệu Mẫn Hiên, quê ở làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội). Xuất thân trong gia đình nhà nho, Cao Bá Quát được cha kèm cặp học hành và hướng vào đường khoa cử. Năm 23 tuổi, Cao thi Hương đỗ Cử nhân; năm 32 tuổi, được bổ làm Hành tẩu bộ Lễ. Khi làm Sơ khảo trường thi Thừa Thiên, vì thương những sĩ tử có tài nhưng phạm húy nên ông đã cùng Phạm Nhạ chữa bài cho họ; việc bị lộ, ông bị giảo giam hậu (giam đợi lệnh), sau được tạm tha, cho đi phục dịch trong phái đoàn ngoại giao để lập công chuộc tội. Cuối hè năm 1843, ông về Đà Nẵng, lại được gọi vào bộ Lễ, sau bị thải về. Ông chơi thân với Nguyễn Văn Siêu (1795-1872), quê làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, Hà Nội, đỗ Phó bảng năm 1838, (một học giả uyên bác) và hai người được suy tôn là “thần Siêu, thánh Quát” vì tài năng văn chương lỗi lạc.

    Được tiếp xúc với nhân dân, thấu hiểu nỗi khổ của họ do bị áp bức, bóc lột quá đáng, ông càng chán ghét triều đình. Năm 1847, ông được triệu vào Viện Hàn lâm, làm việc sưu tầm, sắp xếp văn thơ cho vua Tự Đức nhưng thấy nhàm chán, muốn bỏ về. Do cương trực, không luồn cúi, ông bị vua quan nhà Nguyễn đưa đi làm Giáo thụ ở Phủ Quốc vào mùa hè năm 1850 (Tự Đức thứ ba). Ông tỏ ý khinh ghét và mỉa mai chế độ, oán giận triều đình thối nát và bắt đầu vận động những người cùng chí hướng chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa năm 1853, ông xin thôi dạy học, lấy cớ về nuôi mẹ già. Ông liên hệ với các thổ hào ở Tây Bắc là Đinh Công Mỹ và Bạch Công Chân để bổ sung lực lượng; suy tôn Lê Duy Cự làm minh chủ, còn mình lãnh chức Quốc sư. Cuối tháng 11-1854, ông làm lễ tế cờ ở Rừng Ngang rồi chia quân làm 3 cánh, một cánh tiến đánh phủ Ứng Hòa và huyện Thanh Oai, một cánh đánh xuống Kim Bảng (Hà Nam), một cánh đánh lên Yên Sơn (Phủ Quốc) và Vĩnh Tường (nay thuộc Vĩnh Phúc). Lên Phủ Quốc, Cao đóng quân ở cạnh núi Hoàng (chỗ sau này là sân kho của HTXNN, phía trước đình Hoàng Xá). Trong trận giao chiến với quân của triều đình cạnh núi Hoàng, Cao thua trận. Sử triều Nguyễn không nói rõ Cao chết tại trận hay là bị thương, bị bắt sau đó mới chết. Vì yêu mến ông, nhiều giai thoại đã ra đời, cho rằng ông không chết; kể chuyện ông bị tù để đề cao khí phách của ông; có giai thoại còn cho rằng ông thoát được, sau mới ốm chết... Cao Bá Quát không nổi loạn mà phản kháng theo đúng tinh thần anh hùng của người Việt Nam, muốn trừ bạo cứu dân và giữ tấm lòng thanh cao. Đôi câu đối:

    “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm

    Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”

    Dịch nghĩa:

    Mười năm bàn đạo ngao du, khó như tìm gươm cổ

    Một đời ta chỉ cúi đầu sùng bái hoa mai

    Bốn bài thơ đề núi Sài - một cốt cách, một tấm lòng

    Lên thăm núi Sài, Cao có đến 4 bài đề vịnh. Tại Vườn Đào trước cửa hang Thánh Hóa, hiện còn bút tích của Cao Bá Quát là ba chữ “Đào Hoa Viên” khắc trên vách đá. Bốn bài thơ (bản dịch của Tảo Trang) như sau:

    Vãn du Sài Sơn vũ hậu đăng sơn đầu đề bích, tứ thủ

    (Buổi chiều đi chơi Sài Sơn, mưa tạnh, lên núi đề thơ vào vách núi, bốn bài)

             Bài 1

    Bao núi bên sông tỏa khắp nơi

    Núi này phong cảnh nhất phương Đoài

    Đã mang ấn đến Kim môn ẩn

    Còn sửa guốc tìm Ngọc cục chơi

    Mưa phất vũng sen bông đỏ thắm

    Chuông rền bóng xế tiếng buông rơi

    Trần ngâm phanh áo nhìn xa thẳm

    Những mến rừng thiền thú thảnh thơi.

    Bài này nhắc đến chuyện “mang ấn”, tức là Cao ra làm quan (Giáo thụ Quốc Oai). Còn chuyện đánh sáp guốc lấy từ tích cổ Trung Quốc: Chuyện Nguyễn Phu, hiền giả đời Tấn, thích đi guốc, nói với khách đến chơi rằng chẳng biết còn phải dùng bao nhiêu đôi guốc nữa, ý nói phải đi nhiều; Cao hàm ý nói đời mình cũng còn phải thay đổi. Ngọc cục: Nơi Trương Đạo Lăng tu tiên đắc đạo; ý này nói Cao tuy mới đến nhưng đã yêu mến phong cảnh núi Sài, có rừng thiền thỏa thú thảnh thơi.
    Bài 2

    Hò hẹn non Tô lỡ mãi rồi 

    Trời Tây bầu nón chậm lên chơi

    Tấm bia Cảnh Thống chùi rêu đọc

    Dấu gót Từ Công gọi đuốc soi

    Mây núi bốn bề vui ngắm nghía

    Cuộc đời trăm tuổi mấy đầy vơi

    Lênh đênh bước trước bàn chi nữa

    Tay đỡ bông sen miệng mỉm cười.

    Tác giả nhắc đến ngọn núi Tô Môn ở Hà Nam (Trung Quốc), đời Tấn có Tôn Đăng ẩn ở đó - so sánh với núi Sài mình đến. Từ Công: Từ Đạo Hạnh, cao tăng tu luyện và hóa ở núi Sài, còn dấu chân trong hang Thánh Hóa, thác sinh làm vua Lý Thần Tông. Cảnh Thống: Niên hiệu vua Lê Hiển Tông (1498-1504). Bài này có hai câu cuối rất hay, cho thấy một Cao tiên sinh từng trải việc đời, đã đến lúc tự biết mình, tự cười mình từng khốn khổ vì mắc vòng danh lợi: “Bình sinh lãng tích na trùng vấn/Thủ bả liên hoa tiếu tự tri” (Bước đường nay đây mai đó trước đây không cần nhắc lại nữa/Tay cầm bông hoa sen, mỉm cười, mình tự biết mình). Một Cao Bá Quát kiên định mà nhân bản.

    Bài 3

    Ông già thích kể chuyện quan Thượng

    Khóm trúc làn ao dưỡng tuổi già

    Bóng xế đem theo đời biến đổi

    Dòng xuôi riêng chán cảnh vinh hoa

    “Ba thôi” trong cuộc thân từng trải

    “Sáu tựa” xem người mắt đã qua

    Mệt mỏi dễ thành ưa phóng dật

    Núi đây ta sẽ dựng ngôi nhà.

    Quan Thượng được nói ở đây là Phan Huy Cần (1722-1789), quê Hà Tĩnh, đỗ Tiến sĩ năm 1754, làm quan đến Tham tụng; lúc già về ở Thụy Khê, Sài Sơn. Cụ là cha của Phan Huy Ích (1750-1822), Phan Huy Ôn (1755-1786) và Phan Huy Chú (1782-1840). Đến núi Sài, Cao tâm đắc với sự lựa chọn của cụ Cần. “Dòng xuôi riêng chán cảnh vinh hoa”...: lấy từ điển tích chỉ việc làm quan đang đắc ý như trên dòng chảy xiết mà dứt bỏ để về; trong đời cụ Cần có 3 lần thôi việc: 1 lần bị bãi chức và 2 lần về hưu. “6 tựa” (6 lẽ hư ảo): Tất cả việc trên đời đều như mộng, như ảo, như bọt nước, như cái bóng, như sương và như chớp - tất cả đều không bền vững, vậy mà có lúc mình đã đeo đuổi. Cao cũng muốn như cụ Cần: Từ bỏ danh lợi, về sống thanh thản giữa thiên nhiên.


          Bài 4.

    Tham chơi đầu bạc hứng chưa nguôi

    Chống gậy trèo cao rộng bước chơi

    Bút cuốn khói mây mười sáu ngọn

    Mắt thu non nước vạn trùng khơi

    Am xưa hạc ốm nghe im tiếng

    Rồng bướng giương vây dậy giữa đồi

    Hãy tới chợ trời tung điệu sáo

    Vòm trời cười hỏi mấy xa vời?

    Bài dùng điển tích “hạc ốm”(Trung Quốc) nói rằng không phải ở thế gian này, người nào cũng hoàn toàn là người; người thật là người rất ít. Còn hình ảnh “Rồng bướng” (quai long) so sánh núi Sài như con rồng bướng giương vây đột khởi giữa đồng bằng. “Vòm trời” nói trong bài là dựa theo sách Phật nói ba cõi Phật có 28 vùng trời, đứng trên chợ Trời đỉnh núi Sài thì gần tới trời. Bài thơ thể hiện cái nhìn phóng khoáng và tầm tư tưởng lớn lao của danh sĩ Cao Bá Quát.

    Ngoài bốn bài thơ về núi Sài, Cao còn có bài thơ về núi Hoàng Xá; mỗi bài một vẻ đẹp riêng nhưng đều hài hòa thống nhất trong đề tài vịnh cảnh, bày tỏ tư tưởng, thể hiện cốt cách, tấm lòng của một tài năng lớn, một nhân cách lớn. Dẫu rằng thời gian Cao ở Phủ Quốc không dài, chỉ trên 2 năm, nhưng đất và người nơi này đã để lại trong ông bao cảm mến. Người Phủ Quốc biết ơn ông đã góp phần làm phong phú truyền thống văn hiến quê hương. Dấu tích Thánh Quát còn trên “sách đá” núi Thầy và người sống mãi trong lòng dân Phủ Quốc.

     Đỗ Quốc Bảo
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Hữu Huân @ 00:10 28/06/2011
    Số lượt xem: 1831
    Số lượt thích: 1 người (Nguyễn Đạt Thành)
     
    Gửi ý kiến

    NHẤP VÀO LIÊN KẾT BÊN DƯỚI ĐỂ XEM VIDEO CÁC THỦ THUẬT HAY. THÂY CÔ VÀ CÁC BẠN HÃY ĐĂNG KÝ MIỄN PHÍ ĐỂ ỦNG HỘ CHO KÊNH !